Thời cơ & Thách thức: Con đường tất yếu của doanh nghiệp cơ khí Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi số cách mạng 4.0
Trong bối cảnh thời kỳ cách mạng 4.0, chuyển đổi số đang diễn ra sâu rộng trên phạm vi toàn cầu, doanh nghiệp cơ khí Việt Nam đứng trước một bước ngoặt rất lớn: buộc phải thay đổi sau rộng để thích nghi, để tồn tại và vươn lên, hoặc sẽ bị chậm lại và bị bỏ lại phía sau trong sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của thị trường. Nếu như trước đây, nhiều doanh nghiệp cơ khí có thể tồn tại chỉ bằng kinh nghiệm sản xuất truyền thống, sự cần cù, từ những đơn hàng gia công quen thuộc trong nước, thì nay cục diện đã khác.

Các thiết bị cơ khí được chế tạo tại Nhà máy chế tạo thiết bị LILAMA 18
Thị trường không chỉ đòi hỏi một sản phẩm cơ khí làm ra được, mà đòi hỏi sản phẩm đó phải đạt độ chính xác cao, chất lượng ổn định, giá thành hợp lý, thời gian giao hàng đúng cam kết, quy trình sản xuất minh bạch và quan trọng hơn, phải đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng khắt khe của khách hàng trong nước cũng như quốc tế. Trong điều kiện ấy, doanh nghiệp cơ khí Việt Nam muốn phát triển, muốn tiếp cận nhiều hơn với các đơn hàng xuất khẩu thì không còn con đường nào khác ngoài việc phải đổi mới máy móc công nghệ, nâng cao năng lực quản trị, đào tạo lại nguồn nhân lực và chủ động nghiên cứu đổi mới sản phẩm có giá trị tăng cao. Đó không còn chỉ là một khẩu hiệu mang tính thời sự, mà đã trở thành bài học thực tế được rút ra từ chính quá trình phát triển thực tế của nhiều doanh nghiệp cơ khí chế tạo nhỏ và vừa ở Việt Nam.
Điều đáng chú ý là trong cộng đồng doanh nghiệp cơ khí hiện nay, đặc biệt là các doanh nghiệp hội viên của VAMI, tư duy đổi mới đã không còn dừng ở nhận thức chung chung mà đang dần chuyển thành hành động cụ thể. Nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu nhìn nhận rất rõ rằng, nếu tiếp tục sản xuất bằng dây chuyền cũ, bằng công nghệ lạc hậu, bằng đội ngũ lao động chưa được đào tạo theo yêu cầu mới, thì rất khó bước vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn, càng khó tiếp cận được các đơn hàng quốc tế vốn coi trọng chất lượng và năng lực giao hàng. Trong khó khăn đó thì, cơ hội lại đang mở ra từ nhiều phía. Xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng trên thế giới, nhu cầu nội địa hóa ngày càng lớn trong nhiều ngành công nghiệp, yêu cầu phát triển công nghiệp hỗ trợ, cùng với chủ trương thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao năng suất lao động đang tạo ra một không gian phát triển mới cho doanh nghiệp cơ khí Việt Nam. Cơ hội chỉ thực sự trở thành kết quả khi doanh nghiệp có đủ năng lực để nắm bắt, và có đủ năng lực công nghệ để có thể hình thành được các sản phẩm mới xuất hiện nhờ nền tảng công nghệ, con người và chiến lược sản phẩm mới.
Từ thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà sản xuất cơ khí Việt Nam có thể thấy rất rõ rằng đơn hàng quốc tế không chỉ là câu chuyện của quan hệ thương mại hay xúc tiến tìm thị trường. Trước khi có thể ký được hợp đồng với các đối tác trong, ngoài nước thì họ thường phải vượt qua nhiều vòng đánh giá rất nghiêm ngặt. Khách hàng không chỉ xem sản phẩm mẫu, mà còn xem năng lực thiết bị, quy trình kiểm soát chất lượng, trình độ lao động kỹ thuật, hệ thống quản lý kho, quản lý vật tư, năng lực truy xuất dữ liệu, khả năng đáp ứng tiến độ, và cả tinh thần cải tiến liên tục của doanh nghiệp. Với các đơn hàng xuất khẩu, đặc biệt trong những lĩnh vực như linh kiện cơ khí chính xác, kết cấu thép chất lượng cao, chi tiết cho công nghiệp phụ trợ, thiết bị nâng hạ, phụ tùng thay thế hay các cụm chi tiết cho ngành điện, giao thông, năng lượng,…. Đối tác mua hàng thường không chấp nhận cách làm thủ công, chắp vá hoặc phụ thuộc quá nhiều vào tay nghề cá nhân mà họ cần thấy một hệ thống vận hành mang tính chuẩn hóa cao. Điều đó có nghĩa doanh nghiệp nào càng đầu tư vào máy móc hiện đại, tự động hóa, phần mềm thiết kế, phần mềm quản lý sản xuất, công nghệ đo kiểm và hệ thống quản trị chất lượng thì càng tiếp cận gần hơn với sân chơi quốc tế.

Tự động hóa bằng robot hàn đang trở thành một trong những hướng nâng cấp quan trọng của doanh nghiệp cơ khí trong thời kỳ chuyển đổi số.
Chính vì vậy, việc đổi mới công nghệ không đơn thuần là mua thêm vài thiết bị mới để làm đẹp nhà xưởng, mà là một bước tái cấu trúc toàn diện năng lực sản xuất. Khi doanh nghiệp đầu tư máy CNC, máy gia công trung tâm, robot hàn, phần mềm CAD/CAM, hệ thống ERP hoặc các công cụ số hóa dữ liệu sản xuất,… Nhằm thay đổi không chỉ là năng suất tăng lên mà còn là cách doanh nghiệp tổ chức quản trị sản xuất. Sai số được giảm xuống, thời gian chết của máy móc được kiểm soát tốt hơn, khả năng lặp lại của sản phẩm ổn định hơn, tiến độ giao hàng chính xác hơn, và đặc biệt là doanh nghiệp có thể làm ra những sản phẩm có hàm lượng giá trị gia tăng cao hơn trước. Đây là bước chuyển rất quan trọng, để doanh nghiệp khắc phục, nhiều doanh nghiệp cơ khí Việt Nam chuyển từ sản xuất phân khúc gia công đơn giản, giá trị gia tăng thấp, phụ thuộc nhiều vào đơn hàng ngắn hạn. Khi công nghệ được nâng cấp, doanh nghiệp mới có điều kiện dịch chuyển sang những phân khúc cao hơn, để có lợi nhuận tốt hơn, yêu cầu kỹ thuật cao hơn và vị thế trong chuỗi cung ứng cũng khác hơn.
Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tế cũng cho thấy công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng với nguồn nhân lực có kỹ thuật cao hơn. Một chiếc máy hiện đại sẽ không thể tạo ra giá trị tương xứng nếu thiếu đội ngũ vận hành đủ trình độ, thiếu cán bộ kỹ thuật có khả năng đọc hiểu bản vẽ và lập trình, thiếu bộ phận quản lý chất lượng hiểu tiêu chuẩn, và thiếu những người quản trị đủ tư duy để biến dữ liệu thành quyết định. Đây là điểm mà nhiều doanh nghiệp cơ khí chế tạo Việt Nam đang đối mặt. Không ít doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư thiết bị, nhưng lại lúng túng trong việc đào tạo nhân lực tương thích. Có nơi mua máy hiện đại nhưng vẫn vận hành theo lối cũ; có nơi có phần mềm nhưng dữ liệu không được cập nhật đầy đủ; có nơi tuyển lao động trẻ nhưng chưa xây dựng được quy trình đào tạo đồng bộ bài bản trong doanh nghiệp; có nơi công nghệ tăng lên nhưng năng lực quản lý chất lượng chưa theo kịp, vì thế đổi mới công nghệ trong ngành cơ khí suy cho cùng không phải chỉ là câu chuyện của tài sản cố định, mà còn là câu chuyện của tri thức, của kỹ năng và của sự chuyển biến về tư duy quản trị sản xuất.
Qua bài học từ nhiều doanh nghiệp cơ khí Việt Nam đã làm được rất đáng để suy ngẫm. Phần lớn họ không có tiềm lực tài chính quá lớn, không thể trong một thời gian ngắn đầu tư đồng loạt tất cả các khâu, càng không thể cạnh tranh bằng quy mô với các doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước. Chính trong điều kiện khó khăn ấy, nhiều doanh nghiệp đã chọn cách đi phù hợp: đầu tư từng bước nhưng đúng hướng, lựa chọn công nghệ thiết yếu trước, tập trung vào nhóm sản phẩm có khả năng tạo khác biệt, xây dựng đội ngũ nòng cốt rồi mở rộng dần. Không ít doanh nghiệp bắt đầu từ việc cải tiến một công đoạn quan trọng nhất, thay một số thiết bị gây nghẽn năng suất, chuẩn hóa quy trình kiểm tra chất lượng, kết hợp đào tạo kỹ thuật viên chủ chốt, sau đó từng bước tiến tới quản trị số ở mức cao hơn. Kết quả là chỉ sau một thời gian, năng lực thực tế đã thay đổi rõ rệt. Từ chỗ chỉ làm các đơn hàng nhỏ lẻ, họ có thể tiếp cận được những khách hàng yêu cầu cao hơn; từ chỗ làm theo bản vẽ đơn giản, họ có thể tham gia sâu hơn vào quá trình hoàn thiện sản phẩm; từ chỗ chỉ là một nhà gia công đơn thuần, họ bắt đầu trở thành đối tác có năng lực công nghệ kỹ thuật đáng tin cậy.
Nhìn vào cộng đồng hội viên của VAMI, có thể nhận thấy đã có một xu hướng rất rõ: Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp mới tham gia hiệp hội, đều mang theo một tinh thần đổi mới khá mạnh mẽ. Họ không gia nhập hiệp hội chỉ để có thêm một kênh kết nối đơn thuần, mà còn bởi họ đang ở trong một giai đoạn phát triển mới, mở rộng hợp tác, tìm hiểu thị trường, họ cần nâng cao vị thế và cần rút ra kinh nghiệm để tiếp cận chuỗi đơn hàng lớn hơn. Một điểm rất đáng mừng là trong số các thành viên mới được kết nạpvào VAMI thời gian qua, nhiều đơn vị đều đã xác định khá rõ mục tiêu phải đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, cải tiến quy trình sản xuất và từng bước hướng ra thị trường quốc tế. Điều này cho thấy sự vận động của doanh nghiệp cơ khí hiện nay không còn quanh quẩn trong phạm vi “làm được gì thì làm nấy”, mà đã có sự chủ động hơn trong lựa chọn con đường phát triển.
Những doanh nghiệp điển hình mới gia nhập hiệp hội thường mang đến một sinh khí mới cho cộng đồng ngành. Có doanh nghiệp nổi bật ở chỗ mạnh dạn đầu tư dây chuyền sản xuất hiện đại để tạo ra các chi tiết cơ khí có độ chính xác cao, phục vụ không chỉ thị trường trong nước mà còn hướng tới các đơn hàng của doanh nghiệp FDI và đáp ứng đối tác xuất khẩu. Có doanh nghiệp đi theo hướng phát triển sản phẩm mới gắn với nhu cầu của các ngành công nghiệp đang tăng trưởng như năng lượng, xây dựng công nghiệp, logistics, kết cấu thép, thiết bị chế biến. Có đơn vị lại chuyển mình từ mô hình gia công truyền thống sang nghiên cứu, chế tạo các sản phẩm có tính ứng dụng cao hơn, đòi hỏi hàm lượng kỹ thuật mang giá trị gia tăng tốt hơn. Dù mỗi doanh nghiệp cơ khí Việt Nam hiện có một điểm xuất phát khác nhau, song mẫu số chung rất rõ là họ đều nhận thức rằng phải đổi mới công nghệ và quản trị thì mới có cơ hội bước vào sân chơi thị trường rộng hơn.

Công nhân vận hành máy cắt CNC tại nhà máy chế tạo LILAMA 10
Sự xuất hiện của những hội viên mới với sản phẩm mới, định hướng mới cũng cho thấy một thực tế đáng chú ý: Cơ khí Việt Nam không thiếu doanh nghiệp có khát vọng tiến lên. Vấn đề là làm sao để khát vọng ấy được tiếp sức bằng những điều kiện phù hợp. Nhiều doanh nghiệp hiện nay đã chủ động đầu tư sản phẩm mới không phải vì chạy theo phong trào, mà vì họ nhìn thấy nhu cầu của thị trường đang thay đổi. Thị trường nội địa đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng. Các chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ, chương trình nội địa hóa trong một số ngành cũng đang tạo ra đòi hỏi mới về tỷ lệ tham gia của doanh nghiệp trong nước. Khách hàng quốc tế thì không chờ doanh nghiệp chuẩn bị xong mới đặt hàng; họ luôn tìm kiếm nhà cung cấp nào có thể đáp ứng nhanh nhất, tốt nhất, ổn định nhất. Do đó, sự chủ động đổi mới sản phẩm là một cách để doanh nghiệp tự mở đường cho mình, thay vì chỉ ngồi chờ cơ hội.
Không chỉ các doanh nghiệp mới kết nạp, phần lớn doanh nghiệp thành viên của hiệp hội hiện nay đều đang có những định hướng mới về sản phẩm và thị trường. Có doanh nghiệp chuyển từ gia công đơn chiếc sang phát triển các cụm chi tiết có tính đồng bộ hơn. Có doanh nghiệp tập trung vào linh kiện, phụ kiện, bộ phận cơ khí phục vụ các chương trình nội địa hóa. Có doanh nghiệp tìm cách cải tiến dòng sản phẩm sẵn có để đạt các tiêu chí về chất lượng, an toàn, độ bền và khả năng cạnh tranh cao hơn. Một số doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn đến công nghiệp phụ trợ cho các lĩnh vực giàu tiềm năng như đường sắt, điện lực, năng lượng tái tạo, cơ khí xây dựng, nông nghiệp công nghệ cao, thiết bị công nghiệp, phụ tùng thay thế. Đây là sự dịch chuyển quan trọng, bởi nó phản ánh rằng doanh nghiệp cơ khí Việt Nam không chỉ nhìn thị trường ở bề mặt mà đang bắt đầu tư duy theo chuỗi giá trị. Khi đã nghĩ theo chuỗi giá trị, doanh nghiệp sẽ hiểu rõ hơn mình đang đứng ở đâu, thiếu gì, cần bổ sung năng lực nào, và phải liên kết với ai để tăng khả năng tham gia vào các chương trình lớn.
Kinh nghiệm của một số doanh nghiệp cơ khí Việt Nam hiện tại thành công hoặc đang chuyển biến tích cực nhằm tìm kiếm giá trị gia tăng cao hơn rất đáng được tôn vinh và tham khảo. Bài học đầu tiên của họ là dám đầu tư, nhưng phải đầu tư có trọng tâm. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa không thể đầu tư dàn trải, song họ vẫn có thể lựa chọn những khâu quyết định để nâng cấp trước. Ví dụ, nếu một công đoạn đang gây ra sai lỗi cao hoặc làm chậm tiến độ giao hàng, doanh nghiệp nên ưu tiên xử lý công đoạn đó bằng thiết bị và công nghệ phù hợp. Khi nút thắt được tháo, năng lực tổng thể của doanh nghiệp sẽ cải thiện nhanh hơn nhiều so với việc đầu tư rải đều nhưng không tạo ra khác biệt rõ rệt. Bài học thứ hai là phải coi chất lượng như nền tảng sống còn. Nhiều doanh nghiệp giữ được khách hàng không phải vì giá rẻ nhất, mà vì sản phẩm ổn định, phản hồi nhanh, giao hàng đúng hẹn và sẵn sàng cải tiến theo yêu cầu của đối tác. Trong sản xuất cơ khí, uy tín về chất lượng và tiến độ chính là thứ “tài sản vô hình” nhưng có giá trị rất lớn.
Bài học thứ ba là đầu tư máy móc phải đi liền với đào tạo nhân lực. Những doanh nghiệp làm tốt thường không tách rời hai việc này. Họ chọn ra đội ngũ kỹ thuật nòng cốt, đào tạo chuyên sâu, vừa học từ nhà cung cấp công nghệ, vừa học qua thực hành, vừa xây dựng quy trình nội bộ để truyền lại cho lớp lao động kế cận. Chính cách làm ấy giúp doanh nghiệp không bị phụ thuộc vào một vài cá nhân, đồng thời từng bước hình thành một nền văn hóa sản xuất bài bản hơn. Bài học thứ tư là phải chọn đúng sản phẩm, đúng phân khúc. Doanh nghiệp nhỏ và vừa rất khó cạnh tranh bằng số lượng ở những phân khúc đại trà, nhưng lại có thể tạo lợi thế nếu chọn các sản phẩm ngách, sản phẩm có độ tùy biến cao, sản phẩm đòi hỏi sự linh hoạt và khả năng đáp ứng nhanh. Khi đã có vị thế ở một phân khúc cụ thể, doanh nghiệp sẽ có nền tảng để mở rộng dần sang các lĩnh vực liên quan.

Thiết bị do LILAMA 18 chế tạo đang trên đường xuất khẩu ra thị trường quốc tế
Một kinh nghiệm khác cũng rất đáng lưu ý là doanh nghiệp muốn đi xa thì không thể chỉ lo sản xuất mà bỏ qua quản trị. Chuyển đổi số trong cơ khí không chỉ là số hóa bản vẽ hay mua thêm phần mềm, mà là thay đổi cách quản lý thông tin, quản lý đơn hàng, quản lý tiến độ, quản lý tồn kho, quản lý chất lượng, quản lý nhân sự. Khi dữ liệu được tổ chức tốt hơn, doanh nghiệp sẽ giảm lãng phí, ra quyết định nhanh hơn, chủ động hơn trong việc điều chỉnh kế hoạch và nâng cao năng lực phản ứng với yêu cầu của khách hàng. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa ban đầu e ngại rằng số hóa quản trị là việc tốn kém và phức tạp, nhưng thực tế cho thấy ngay cả những bước số hóa cơ bản cũng có thể tạo ra hiệu quả rất rõ nếu được triển khai đúng cách. Sự thay đổi không nhất thiết phải bắt đầu từ những hệ thống lớn, mà có thể từ những công cụ phù hợp với quy mô và khả năng của doanh nghiệp.
Dù vậy, cũng cần nhìn thẳng vào một thực tế rằng con đường đổi mới của doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành cơ khí hiện nay không hề dễ dàng. Rào cản đầu tiên vẫn là vốn. Máy móc hiện đại, công nghệ mới, phần mềm quản trị, thiết bị đo kiểm, dây chuyền tự động hóa đều cần nguồn đầu tư lớn, trong khi nhiều doanh nghiệp vừa phải duy trì dòng tiền sản xuất thường xuyên, vừa phải đối mặt với biến động thị trường, giá nguyên vật liệu, chi phí lao động, chi phí tài chính. Rào cản thứ hai là thiếu nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ kỹ thuật có khả năng vận hành thiết bị hiện đại, làm chủ công nghệ mới, hiểu các tiêu chuẩn của khách hàng quốc tế. Rào cản thứ ba là năng lực tiếp cận thông tin thị trường, tiêu chuẩn kỹ thuật, các chương trình hỗ trợ, cũng như khả năng kết nối với những chuỗi đơn hàng quy mô lớn còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp dù có quyết tâm đổi mới nhưng vẫn loay hoay vì không biết bắt đầu từ đâu, tiếp cận công nghệ nào cho phù hợp, đào tạo ai trước, đầu tư bước nào trước để giảm rủi ro.
Chính bởi vậy, việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành cơ khí không nên chỉ dừng ở những lời khuyến khích chung chung, mà cần được cụ thể hóa thành các chính sách đủ mạnh, đủ trúng và đủ thực chất. Nếu xác định cơ khí là ngành nền tảng, là lực lượng quan trọng trong phát triển công nghiệp hỗ trợ, trong nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và trong việc tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực, thì việc hỗ trợ doanh nghiệp cơ khí đổi mới công nghệ phải được xem là một khoản đầu tư cho năng lực sản xuất quốc gia. Trước hết, cần có cơ chế tín dụng thuận lợi hơn cho doanh nghiệp đầu tư đổi mới thiết bị, đặc biệt là các gói vay trung và dài hạn với lãi suất phù hợp, quy trình tiếp cận thực tế hơn với đặc thù của doanh nghiệp sản xuất. Bên cạnh đó, cần tăng cường các chương trình hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật, đào tạo kỹ năng quản trị sản xuất hiện đại, kỹ năng chuyển đổi số, kỹ năng quản lý chất lượng, qua đó giúp doanh nghiệp không chỉ có máy móc mà còn có con người làm chủ được máy móc.
Một hướng hỗ trợ rất cần thiết khác là hỗ trợ tư vấn công nghệ, tư vấn cải tiến sản xuất và kết nối thị trường. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa không thiếu ý chí, nhưng thiếu “người dẫn đường” để xác định đúng nhu cầu công nghệ, đúng lộ trình đầu tư và đúng chuẩn thị trường. Nếu có các chương trình tư vấn chuyên sâu, kết hợp giữa cơ quan quản lý, hiệp hội, chuyên gia kỹ thuật, trường nghề, viện nghiên cứu và các doanh nghiệp lớn, thì hiệu quả đổi mới của doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ cao hơn nhiều. Ngoài ra, các chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu, kết nối doanh nghiệp trong nước với các tập đoàn lớn, với doanh nghiệp FDI, với các nhà mua hàng quốc tế cũng đặc biệt quan trọng. Trong nhiều trường hợp, điều doanh nghiệp cần không chỉ là tiền hay máy, mà là cơ hội được bước vào đúng cánh cửa của thị trường.
Vai trò của hiệp hội trong tiến trình này cũng rất cần được phát huy mạnh mẽ hơn. Hiệp hội không chỉ là nơi tập hợp hội viên, mà còn có thể trở thành cầu nối giữa doanh nghiệp với chính sách, giữa doanh nghiệp với thị trường, giữa doanh nghiệp với công nghệ và tri thức quản trị mới. Khi hiệp hội tập hợp được những doanh nghiệp điển hình, những mô hình hay, những bài học thực tiễn về đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực, phát triển sản phẩm mới và tham gia chương trình nội địa hóa, thì giá trị lan tỏa đối với cộng đồng doanh nghiệp sẽ rất lớn. Một doanh nghiệp thành công trong đổi mới sẽ không chỉ tạo ra lợi ích cho riêng mình, mà còn gợi mở niềm tin cho những doanh nghiệp khác rằng họ cũng có thể làm được nếu đi đúng hướng. Sự lan tỏa của kinh nghiệm, của tinh thần đổi mới và của khát vọng nâng tầm chính là một nguồn lực quan trọng cho sự phát triển của toàn ngành.
Ở góc độ rộng hơn, câu chuyện đổi mới của doanh nghiệp cơ khí hôm nay không chỉ gắn với sự sống còn của từng đơn vị, mà còn gắn với năng lực tự chủ của nền công nghiệp quốc gia. Một nền công nghiệp muốn phát triển bền vững thì không thể quá phụ thuộc vào nhập khẩu máy móc, thiết bị, linh kiện và các cụm sản phẩm trung gian. Muốn nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, muốn tham gia sâu vào các dự án lớn, muốn phát triển công nghiệp hỗ trợ, muốn hình thành năng lực sản xuất trong nước ở trình độ cao hơn, thì nhất thiết phải có một cộng đồng doanh nghiệp cơ khí đủ mạnh. Mà muốn đủ mạnh, doanh nghiệp không thể sản xuất mãi theo cách cũ. Chuyển đổi số, đổi mới công nghệ, nâng cấp quản trị, đào tạo nhân lực và phát triển sản phẩm mới không còn là những lựa chọn mang tính thử nghiệm, mà đã trở thành điều kiện nền tảng cho một giai đoạn phát triển mới.
Thực tiễn từ các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam, từ các hội viên đang hoạt động tích cực trong hiệp hội, từ các thành viên mới được kết nạp với tinh thần đổi mới rõ nét, đang cho thấy một tín hiệu tích cực: cơ khí Việt Nam đang chuyển động. Có thể tốc độ chưa đồng đều, có thể mỗi doanh nghiệp đi một bước dài ngắn khác nhau, nhưng điều quan trọng là nhận thức đã thay đổi và hành động đang bắt đầu diễn ra ngày một rõ hơn. Nhiều doanh nghiệp đã không còn hài lòng với việc duy trì sản xuất theo lối quen thuộc, mà đang chủ động đặt ra cho mình những mục tiêu mới: làm chủ công nghệ hơn, làm ra sản phẩm tốt hơn, tham gia vào những chuỗi giá trị cao hơn, tiếp cận những đơn hàng khó hơn và xây dựng vị thế mới cho chính mình. Đó là những chuyển động rất đáng khích lệ.
Trong thời kỳ chuyển đổi số cách mạng 4.0 này, doanh nghiệp cơ khí Việt Nam muốn phát triển, muốn có nhiều đơn hàng xuất khẩu, muốn đóng góp nhiều hơn vào tiến trình nội địa hóa và phát triển công nghiệp hỗ trợ thì không thể đứng không tự đổi mới. Đổi mới máy móc công nghệ, đào tạo nhân lực, đổi mới sản phẩm và nâng cao năng lực quản trị là con đường tất yếu. Thực tế đã chứng minh rằng dù là doanh nghiệp nhỏ và vừa, nếu có quyết tâm, có hướng đi phù hợp và được hỗ trợ đúng lúc, họ vẫn có thể tạo nên những bước tiến đáng kể. Vấn đề còn lại là làm sao để những nỗ lực đổi mới ấy không đơn độc, mà rất cần được nha nước tiếp sức bằng một hệ thống chính sách đồng bộ đồng hành, với vai trò kết nối của hiệp hội, để doanh nghiệp trong nước, có một tầm nhìn phát triển công nghiệp đủ dài hạn. Khi đó, những câu chuyện thành công của từng doanh nghiệp sẽ không còn là những điểm sáng riêng lẻ, mà sẽ kết nối thành một diện mạo mới cho ngành cơ khí Việt Nam: năng động hơn, hiện đại hơn, tự chủ hơn và sẵn sàng bước ra thị trường quốc tế bằng chính năng lực thực chất của mình.
KS. Đào Phan Long, Nguyên Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI)













Tối thiểu 10 chữ Tiếng việt có dấu Không chứa liên kết
Gửi bình luận