Cấp bách đầu tư nguồn điện nền cho tăng trưởng kinh tế

10/08/2026 10:39

Điện năng được xem là một "huyết mạch" của nền kinh tế hiện đại, nơi sự ổn định của hệ thống điện trở thành thước đo quyết định đến bài toán chi phí, giá cả và tốc độ tăng trưởng. Để góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng “hai con số”, điện không chỉ là điều kiện quan trọng mà còn cần đi trước, đi nhanh để đáp ứng nhu cầu phát triển.

Theo các chuyên gia, thông thường để tăng 1% GDP thì sản lượng điện phải tăng 1,2–1,5%. Như vậy, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 10%/năm trở lên, ngành điện Việt Nam cần tăng trưởng tối thiểu 12–15%/năm. Thách thức này càng lớn hơn khi nhiều dự án nguồn điện trọng điểm trong quy hoạch đang chậm tiến độ, gây lo ngại cho an ninh cung ứng điện giai đoạn 2026–2030.

Nguy cơ thiếu điện chực chờ

6 tháng đầu năm, kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực với GDP tăng 8,18% so cùng kỳ năm trước; riêng quý II đạt 8,39%. Theo Bộ Công thương, tăng trưởng kinh tế cao kéo theo nhu cầu sử dụng điện tăng mạnh. Năm 2025, sản lượng điện tiêu thụ cả nước đạt gần 288 tỷ kW giờ, tăng 4,9% so với năm 2024. Lũy kế 7 tháng, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu của toàn hệ thống ước đạt hơn 203,3 tỷ kWh, tăng khoảng 9,3% so cùng kỳ năm trước và cao hơn nhiều so dự tính ban đầu. Ước tính cả năm 2026, sản lượng điện toàn hệ thống sẽ tăng khoảng 9,8% so với năm 2025.

"Mức tăng trưởng phụ tải đột biến không chỉ do thời tiết nắng nóng mà còn phản ánh sự phục hồi mạnh mẽ của nền kinh tế. Ông Lê Minh, Thành viên Hội đồng khoa học Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA)"

Nhu cầu điện đang gia tăng đồng thời từ khu vực công nghiệp, thương mại, hạ tầng số, trung tâm dữ liệu và sinh hoạt dân cư. Theo đánh giá của các chuyên gia năng lượng, năm nay có thể sẽ không xảy ra thiếu điện trên diện rộng, nhưng hệ thống sẽ phải vận hành trong điều kiện hết sức căng thẳng, với mức dự phòng thấp và áp lực lớn trong việc bảo đảm an toàn, ổn định. Đây là vấn đề liên quan trực tiếp đến an ninh năng lượng quốc gia và cần được đặc biệt quan tâm trong quá trình hoạch định chính sách và sử dụng năng lượng hiệu quả.

Ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Thường trực, Tổng thư ký VEA chia sẻ, nếu Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP 10% trở lên, nhu cầu điện năng phải tăng gấp 1,5 đến 2 lần mức tăng GDP mới có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển. Trước năm 2020, tốc độ tăng trưởng điện năng có lúc gấp 1,5 lần tốc độ tăng trưởng GDP, còn hiện nay, nhờ ứng dụng các thiết bị tiết kiệm năng lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng điện, hệ số đàn hồi giữa tăng trưởng điện và tăng trưởng kinh tế giảm xuống còn khoảng 1,1-1,2 lần. Mặc dù vậy, từ nay đến cuối năm hệ thống vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức.

“Theo kế hoạch, đến cuối năm chỉ có Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch 1 đưa vào vận hành thương mại, bổ sung cho hệ thống khoảng 1.400 MW. Trong khi đó, để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng và bảo đảm vận hành an toàn, hằng năm hệ thống điện quốc gia cần được bổ sung khoảng 6.000-7.000 MW.

Mặc dù có thêm vài trăm MW từ điện mặt trời, điện gió, nhưng các nguồn năng lượng tái tạo này phụ thuộc lớn vào điều kiện thời tiết, không bảo đảm cung cấp điện ổn định, liên tục 24/7 trong mọi thời điểm. Chính vì vậy, bên cạnh việc phát triển năng lượng tái tạo, cần phải tiếp tục đầu tư nguồn điện nền, có khả năng điều độ, chủ động để bảo đảm an ninh cung ứng điện”, ông Tuấn nhận định.

Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đã cập nhật yêu cầu mới với mục tiêu cung cấp đủ nhu cầu điện cho tăng trưởng GDP bình quân khoảng 10%/năm giai đoạn 2026-2030 và khoảng 7,5%/năm giai đoạn 2031-2050. Tổng công suất đặt các nhà máy điện năm 2030 đạt khoảng từ 183.291-236.363 MW, nhưng thực trạng hiện tại cho thấy một khoảng cách lớn khi tổng công suất nguồn mới đạt gần 94.000 MW, trong đó khoảng 92.000 MW đã vận hành thương mại.

Điều này đồng nghĩa, trong 5 năm tới, ngay cả ở kịch bản thấp nhất vẫn cần bổ sung thêm khoảng 90.000 MW. Đây thật sự là bài toán nan giải khi tiến độ bổ sung nguồn điện nền giai đoạn 2026-2030 rất ít ỏi, dự kiến chỉ có thêm khoảng 3.000 MW của 2 nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch 2 và Vũng Áng 3, cùng khoảng 1.200 MW của nhà máy điện LNG Hiệp Phước.

"Mặc dù Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đã tính toán kỹ cơ cấu nguồn nhằm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế, nhưng trên thực tế, tiến độ triển khai nhiều dự án nguồn vẫn đang gặp hàng loạt "nút thắt". Những vướng mắc về thủ tục phê duyệt chủ trương đầu tư, báo cáo nghiên cứu khả thi (FS), đất đai đến đàm phán hợp đồng mua bán điện (PPA) và sản lượng hợp đồng (Qc),… đã khiến một loạt dự án rơi vào tình trạng khó khăn. Phó Cục trưởng Điện lực (Bộ Công thương) Bùi Quốc Hùng".

Cục trưởng Điện lực Nguyễn Đức Cường tính toán, để ứng phó nhu cầu cao điểm trong ngắn hạn, ngoài huy động nguồn dự phòng (như diesel) và điều chỉnh phụ tải (đàm phán với khách hàng công nghiệp để… nhường điện cho sinh hoạt), tiết kiệm điện được xem là giải pháp không tốn chi phí và có hiệu quả cao.

Về dài hạn, trước hết cần đa dạng hóa nguồn cung, phát triển thêm các nguồn điện nền, đồng thời đẩy mạnh điện mặt trời, điện gió và năng lượng sinh khối (biomass, biogas). Bên cạnh đó, cần phân định rõ trách nhiệm giữa Bộ Công thương (quản lý quy hoạch điện tầm quốc gia) và địa phương (làm chủ sơ đồ điện, chịu trách nhiệm cân bằng cung cầu tại chỗ và triển khai các dự án) để khắc phục tình trạng phân giao tổ chức thực hiện kém hiệu quả.

Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) Ngô Sơn Hải chia sẻ: Từ nay đến năm 2030, EVN cần hoàn thành 15 dự án nguồn điện với tổng công suất khoảng 6.000 MW, chủ yếu là các dự án điện khí LNG, thủy điện mở rộng,... Tập đoàn đã chuẩn bị sẵn kế hoạch, phấn đấu đưa các dự án nguồn cùng lưới điện giải tỏa công suất vào đúng tiến độ; đồng thời, có văn bản đề xuất cấp thẩm quyền nhiều góp ý chính sách từ phát triển nguồn/lưới đến thủ tục thu xếp vốn và khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào hệ thống điện.

Hiện nay, các nhà máy nhiệt điện đang vận hành liên tục ở công suất cao, gây hao mòn nhanh và phát sinh sự cố, có nguy cơ làm sụt giảm công suất khả dụng. Việc bảo dưỡng thường xuyên các nhà máy nhiệt điện là yếu tố cần thiết để bảo đảm an ninh cung ứng, giúp hệ thống vận hành ổn định lâu dài.

Cấp thiết bổ sung nguồn điện nền

Tình trạng đình trệ của hàng loạt dự án nguồn điện đang đặt ra thách thức lớn về an ninh năng lượng, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang quyết tâm bứt tốc tăng trưởng. Để “cỗ xe” kinh tế không bị “chết máy” vì thiếu hụt nguồn điện, yêu cầu cấp bách hiện nay là phải bằng mọi cách tháo gỡ nút thắt, đẩy nhanh tiến độ các dự án nguồn điện nhằm sớm giải tỏa công suất, đưa vào vận hành.

Nhiều chuyên gia ngành năng lượng đã khẳng định, chỉ khi bảo đảm sự cân bằng giữa phát triển nguồn điện mới và nâng cao chất lượng nguồn hiện hữu mới có thể tạo đà vững chắc cho mục tiêu tăng tốc mạnh mẽ nền kinh tế.

Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030, tổng công suất các nhà máy nhiệt điện than sẽ đạt khoảng 31.000 MW (chiếm tỷ lệ 13,1-16,9% tổng công suất) và nhiệt điện LNG đạt khoảng 22.500 MW (chiếm tỷ lệ 9,5 - 12,3%).

Trong khi đó, tổng công suất hiện có của các nhà máy điện than khoảng 28.000 MW, nhưng nhiệt điện LNG mới chỉ đạt hơn 1.600 MW, chủ yếu được cung cấp từ cụm Nhà máy nhiệt điện khí Nhơn Trạch 3-4. Vì vậy, nhiệm vụ nặng nề của ngành điện hiện nay là vừa phát triển nguồn mới, đồng thời phải nâng cao độ tin cậy các nguồn phát hiện hữu.

"Lưới điện Việt Nam hiện đã đưa vào khá nhiều dự án điện mặt trời, năng lượng tái tạo nên phải có nguồn điện cơ sở chạy nền để bảo đảm tính ổn định hệ thống. Chuyên gia năng lượng Phan Xuân Dương".

Trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đã xem xét 2 hình thái chiến lược là LNG và điện gió ngoài khơi. Mục tiêu đặt ra đến năm 2030, Việt Nam sẽ có ít nhất khoảng 22.000 MW điện LNG và 6.000 MW điện gió ngoài khơi, tuy nhiên từ thực tế hiện tại, có thể thấy đây là nhiệm vụ bất khả thi.

Với LNG, kỳ vọng khả dĩ nhất chỉ đạt khoảng 30% mục tiêu nếu có sự tham gia của các đơn vị trụ cột nhà nước như: Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Tập đoàn Công nghiệp Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN), khó kỳ vọng vào đầu tư tư nhân.

Với điện gió ngoài khơi, thách thức còn lớn hơn, khi khung pháp lý hiện hành vẫn chưa hoàn thiện, vị trí triển khai gặp nhiều vướng mắc về an ninh quốc phòng, hiện tại chưa có dự án nào hoàn tất đủ thủ tục pháp lý để thực hiện. Trong khi đó, những dự án này cần ít nhất 6-8 năm mới hoàn thành xây dựng, khiến mục tiêu đạt 6.000 MW trở thành viễn cảnh xa vời.

Theo các chuyên gia, các dự án nhiệt điện LNG, điện gió,… có giá thành cao, nếu đặt hàng thiết bị chính (tua-bin, máy phát) ngay từ bây giờ, phải đến năm 2030, nhà cung cấp mới có thể đáp ứng. Việt Nam tham gia COP26, phấn đấu giảm phát thải ròng về 0 vào năm 2050, nên từ nay đến lúc đó vẫn còn dư địa để phát triển nhiệt điện than nhờ khả năng cung cấp nguồn điện nền ổn định, giá thành sản xuất thấp, tự chủ được một phần nguyên liệu trong nước, nhất là trong bối cảnh thị trường năng lượng (LNG, dầu) thế giới diễn biến phức tạp.

Nhiệm vụ chiến lược, lâu dài

Tại cuộc họp Ban Chỉ đạo Nhà nước các chương trình, công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành năng lượng ngày 26/5 vừa qua, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc, Trưởng Ban Chỉ đạo nhấn mạnh, việc bảo đảm an ninh năng lượng, cung ứng đủ điện là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công mục tiêu tăng trưởng. Đây là nhiệm vụ hết sức đặc biệt, quan trọng, mang tính chiến lược, cấp bách, lâu dài đối với sự phát triển của đất nước.

“Bộ Công thương cần phối hợp với các bộ, ngành, địa phương khẩn trương rà soát Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia theo hướng đưa ra khỏi danh mục các dự án không thể hoàn thành trong giai đoạn 2026-2030 để điều chỉnh, bổ sung các nguồn điện khác khả thi, phù hợp thực tế, nhất là nguồn điện nền. Việc bổ sung cần tính đến phát triển nhà máy nhiệt điện than quy mô hợp lý kèm theo lộ trình thu hồi, xử lý khí thải; trường hợp cần thiết sẽ thực hiện theo cơ chế khẩn cấp của Luật Điện lực năm 2024. Các địa phương cần có giải pháp mạnh mẽ, xử lý nghiêm chủ đầu tư chậm trễ, không để ảnh hưởng việc cung ứng nguồn điện”, Phó Thủ tướng nhấn mạnh.

"Tình trạng chậm tiến độ của hàng loạt dự án nguồn và lưới điện vừa qua đang tạo ra những thách thức lớn, đe dọa trực tiếp đến an ninh năng lượng và khả năng cung ứng điện cho nền kinh tế trong giai đoạn tới. Bộ trưởng Công thương Lê Mạnh Hùng".

Trước thực trạng này, Bộ Công thương kiến nghị cần khẩn trương rà soát, điều chỉnh quy hoạch nhằm bảo đảm tính khả thi, trọng tâm là lập danh mục các dự án điện cấp bách để triển khai ngay, ưu tiên nguồn điện nền tại các khu vực phụ tải lớn và tối ưu hóa vận hành hệ thống liên hồ chứa thủy lợi-thuỷ điện.

Bên cạnh đó, Bộ Công thương đề xuất triển khai đồng bộ nhóm giải pháp chiến lược: Xây dựng khung giá phát điện hợp lý; nghiên cứu cơ chế, chính sách đột phá cho điện gió ngoài khơi, các trung tâm công nghiệp và năng lượng quốc gia ven biển; thúc đẩy các công trình nguồn điện có thời gian triển khai nhanh;…

Đặc biệt, Bộ cũng kiến nghị tiếp tục nghiên cứu, phát triển các nhà máy nhiệt điện than có công nghệ hiện đại, hiệu suất cao và lộ trình lắp đặt hệ thống thu giữ và lưu trữ carbon (CCS). Khó khăn lớn nhất hiện nay là các tổ chức nước ngoài không cho vay vốn đối với dự án nhiệt điện than mới, trong khi các dự án có quy mô vốn rất lớn.

Các chuyên gia kiến nghị Chính phủ nghiên cứu, xem xét thành lập Quỹ Phát triển các dự án trọng điểm ngành năng lượng (thông qua ngân hàng), tạo nguồn lực để các doanh nghiệp nhà nước trụ cột đứng ra đảm nhận nhiệm vụ triển khai sớm các nhà máy nhiệt điện than, LNG nhằm nhanh chóng đưa vào vận hành.

Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định 272/2026/NĐ-CP nhằm siết chặt các quy định về khảo sát và đầu tư điện gió ngoài khơi. Bằng việc nâng cao các tiêu chuẩn về năng lực tài chính và tỷ lệ vốn, chính sách mới đóng vai trò như một "bộ lọc" để loại bỏ các dự án thiếu khả thi và nâng cao chất lượng nhà đầu tư.

Theo Bộ Công thương, tầm nhìn của Việt Nam không chỉ dừng ở việc xây dựng các dự án phát điện đơn thuần, mà là từng bước hình thành một chuỗi công nghiệp và dịch vụ điện gió ngoài khơi đồng bộ, tiến tới đưa nước ta trở thành trung tâm năng lượng của khu vực và thế giới.

Để những quy định của Nghị định 272/2026/NĐ-CP sớm đi vào thực tiễn và phát huy hiệu quả, việc nhanh chóng xác định nhà đầu tư cho các dự án trọng điểm là ưu tiên hàng đầu. Bộ Công thương cũng khẳng định khâu tổ chức thực thi tại các địa phương và doanh nghiệp sẽ quyết định thành bại của chính sách, đồng thời cam kết sẽ sát cánh và quyết liệt tháo gỡ mọi vướng mắc để thúc đẩy các dự án điện.

Bên cạnh đó, Bộ Công thương cũng đã trình Quốc hội ban hành Nghị quyết 253/2025/QH15 về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026-2030, với tư duy đột phá cho phép điều chỉnh linh hoạt các dự án trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, thay vì phải đợi chu kỳ 5 năm. Bộ cũng có chủ trương cho phép phát triển một số dự án nhiệt điện than chạy nền có điều kiện thuận lợi để triển khai nhanh, dựa trên đề xuất của các doanh nghiệp nhà nước.

Dự kiến thời gian tới, tổ máy số 1 Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại sẽ được đầu tư trở thành nhà máy nhiệt điện than công nghệ cao, quy mô khoảng 1.200 MW. Sau khi nhà đầu tư Thái Lan rút lui, Tổng công ty Phát điện 1 (thuộc EVN) đã đề xuất được giao làm chủ đầu tư Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trị, với cam kết sẽ khởi công vào quý III/2027; vận hành thương mại tổ máy 1-2 vào quý IV/2030 đúng tiến độ. Các doanh nghiệp cơ khí trong nước cũng đã chuẩn bị sẵn sàng nguồn lực cần thiết để sớm triển khai các dự án nguồn điện.

Hiện nay, thị trường năng lượng đã có nhiều cải thiện với sự góp mặt của các doanh nghiệp trong nước tham gia đầu tư, xây dựng, khẳng định vai trò tổng thầu lắp đặt, góp phần bảo đảm nguồn điện cho phát triển kinh tế-xã hội. Tuy nhiên, việc ồ ạt đầu tư điện mặt trời và điện gió vừa qua mặc dù phù hợp với xu thế phát triển, nhưng thiếu sự cân bằng so với tỷ lệ dự phòng từ các nguồn điện truyền thống, dẫn đến giảm hiệu quả đầu tư các nguồn điện mới này.

Trong khi đó, các công trình đầu mối về điện gặp nhiều khó khăn trong triển khai, thậm chí nhiều dự án trọng điểm năng lượng thường rơi vào tay nhà thầu nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước phải làm thầu phụ với những phần việc có giá trị gia tăng thấp.

Tổng Giám đốc Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam (LILAMA) Nguyễn Văn Hùng khẳng định, từ thành công tại các dự án nhiệt điện Vũng Áng 1, Sông Hậu 1, LILAMA hoàn toàn có thể đảm nhận vai trò Tổng thầu EPC tại các dự án nhiệt điện được đầu tư trong tương lai. Nhà nước cần tạo sân chơi bình đẳng, minh bạch về chính sách; trong đó, cần yêu cầu bắt buộc về tỷ lệ nội địa hóa thiết bị trong các dự án; tách bạch và tăng cường đấu thầu trong nước, hạn chế tối đa nhập khẩu những thiết bị, phần việc trong nước có thể đảm nhận.

Đồng thời, có chính sách hỗ trợ về thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuê đất đối với những doanh nghiệp cơ khí-chế tạo, bởi đặc thù của doanh nghiệp cơ khí-chế tạo là quy mô vốn đầu tư lớn, dài hạn và khả năng sinh lãi thấp hơn các doanh nghiệp một số lĩnh vực khác. Khi có chính sách hỗ trợ rõ ràng, các doanh nghiệp cơ khí trong nước sẽ chủ động kết nối, tham gia sâu hơn và thực chất vào thị trường, góp phần bảo đảm nguồn điện cho tăng trưởng cũng như an ninh năng lượng quốc gia.

Để vượt qua giai đoạn từ nay đến năm 2030, ngành điện Việt Nam cần một chiến lược đồng bộ: Vừa quyết liệt tháo gỡ "nút thắt", đẩy nhanh tiến độ các dự án điện trọng điểm, vừa nâng cao trách nhiệm và tính tự chủ cho các địa phương, đồng thời biến tiết kiệm điện thành ý thức thường trực trong sản xuất và tiêu dùng.

Thực hiện: Xuân Thủy, Việt Hải, Lê Chi 

(Theo nhandan.vn)

 

Bình luận

Tối thiểu 10 chữ Tiếng việt có dấu Không chứa liên kết

Gửi bình luận